Polyp túi mật khi nào cần điều trị? Tiêu chuẩn dự đoán polyp ác tính

Polyp túi mật là hậu quả của quá trình tăng sinh quá mức các tế bào trong niêm mạc thành túi mật. Polyp túi mật không phải là ung thư túi mật mà là một dạng tổn thương giả u, có hình dạng giống như san hô. Đại đa số các trường hợp phát hiện polyp túi mật là ngẫu nhiên, thông qua kết quả siêu âm ổ bụng để kiểm tra một bệnh lý nào khác. Polyp đa phần là lành tính, nhưng vẫn có khả năng hóa ung thư. Do vậy, xác định thời điểm khi nào cần điều trị polyp túi mật có ý nghĩa rất quan trọng.

Mục tiêu điều trị polyp túi mật

Mục tiêu quan trọng trong việc điều trị polyp túi mật là làm giảm triệu chứng (nếu có), ngăn ngừa biến chứng viêm túi mật và đặc biệt là phòng ngừa sớm nguy cơ ung thư.

Ung thư túi mật là căn bệnh nguy hiểm, có thể rút ngăn thời gian sống của người bệnh. Vì vậy, mục tiêu trong việc điều trị polyp là phải ngăn ngừa nguy cơ ung thư bằng cách tìm kiếm các dấu hiệu/triệu chứng cảnh báo polyp là ác tính hoặc lành tính, mặc dù tỷ lệ polyp ác tính là rất nhỏ.

Hiện nay, chưa có một loại thuốc nào có thể làm tan được polyp hoặc làm polyp nhỏ đi, do đó trong các trường hợp nghi ngờ ác tính, người bệnh sẽ được phẫu thuật cắt bỏ túi mật bằng phương pháp mổ nội soi hoặc mổ hở. Mổ nội soi được chỉ định khi túi mật không có dấu hiệu tăng trưởng đến thanh mạc, nếu có cần phải được chuyển sang mổ mở, đồng thời bác sĩ sẽ cân nhắc phẫu thuật cắt bỏ một phần gan và các dây chằng giữ túi mật gần gan để đảm bảo loại bỏ hết các tế bào có khả năng đã bị đột biến gen gây ung thư.
 

Sự phát triển của polyp trong niêm mạc thành túi mật

Sự phát triển của polyp trong niêm mạc thành túi mật

Sử dụng Tpcn Kim Đởm Khang hỗ trợ điều trị - là giải pháp hiệu quả, giúp làm giảm triệu chứng đau hạ sườn phải, đầy trướng, buồn nôn, lợm giọng, đồng thời phòng ngừa polyp tiến triển. Hãy gọi cho chúng tôi qua số: 0962326300 để biết thêm thông tin chi tiết.

Các tiêu chuẩn dự đoán polyp túi mật là ác tính

Phân loại theo mô bệnh học

Bằng cách phân loại mô bệnh học, các bác sĩ có thể tiên lượng được một phần nào đó polyp là lành hay ác tính.

- Polyp cholesterol: 60-90% polyp túi mật là polyp cholesterol và chúng phần lớn là lành tính.

- Polyp viêm: Ít phổ biến, chiếm khoảng 10% các trường hợp bị polyp túi mật, nguyên nhân do túi mật bị viêm mạn tính. Kích thước polyp viêm thường dưới 10mm và rất ít nguy cơ gây ung thư.

- U tuyến túi mật: Mặc dù đa phần u tuyến túi mật là lành tính, nhưng vẫn có những biểu hiện tiền ác tính cần được theo dõi.

- U cơ tuyến túi mật: Được đặc trưng bởi sự tăng sinh và phì đại của lớp cơ trong túi mật. U cơ tuyến túi mật có thể lành tính, nhưng cũng giống như u tuyến túi mật, chúng vẫn có các biểu hiện tiền ác tính.

Kích thước polyp túi mật

Kích thước polyp là tiêu chuẩn đơn giản, có thể tiên lượng tương đối chính xác độ lành tính của polyp. Thông thường polyp túi mật có kích thước nhỏ hơn 10mm và không có triệu chứng thường được theo dõi từ 6-12 tháng qua siêu ẩm tổng quát. Ngược lại, polyp có kích thước lớn hơn 10mm, sẽ được cân nhắc phẫu thuật cắt túi mật.

Hình dáng và sự phát triển của polyp túi mật

Hình dạng polyp cũng rất quan trọng để đánh giá polyp túi mật có ác tính hay không. Ở những người polyp không có cuống thường có nguy cơ bị ung thư cao.
Trong quá trình theo dõi, nếu polyp có kích thước tăng trưởng nhanh, có chân lan rộng, hình dáng xù xì sẽ được chỉ định cắt túi mật sớm.

Số lượng polyp túi mật

Hầu hết các polyp đều có xu hướng đơn độc, tức là chỉ có một mình, trong khi đó polyp cholesterol lại có xu hứng xuất hiện nhiều (đa polyp). Đa polyp túi mật sẽ có nguy cơ cao làm xuất hiện triệu chứng/biến chứng và hóa ung thư cao hơn dạng đơn độc.

Khi nào cần cắt túi mật để điều trị polyp?

Phụ thuộc vào nhiều tiêu chí khác nhau mà bác sĩ sẽ xem xét và cân nhắc thời điểm nào người bệnh nên tiến hành phẫu thuật cắt túi mật để điều trị polyp hoặc điều trị bảo tồn - tức là theo dõi kích thước polyp định kỳ.

Nếu không có dấu hiệu polyp ác tính, người bệnh sẽ được theo dõi định kỳ 3-6 tháng/lần. Nếu sau thì gian này, polyp không có sự thay đổi về kích thước, hình dạng và đường viền thì sẽ được khuyến khích giãn cách thời gian theo dõi là 12 tháng/lần.

Bất kỳ polyp túi mật trong trường hợp nào làm phát sinh triệu chứng sẽ cần được loại bỏ túi mật. Ở những bệnh nhân có polyp lớn hơn 6-9mm sẽ được cân nhắc phẫu thuật điều trị. Những polyp có khả năng tiến triển thành u ác tính như 4 tiêu chí phía bên cũng sẽ được xem xét.

Cắt túi mật nên được tiến hành ngay nếu polyp phát triển  nhanh thành khối u, polyp không có cuống hoặc polyp có chân lan rộng, người bệnh trên 50 tuổi, có sự xuất hiện của sỏi mật cùng với polyp… Những trường hợp này sẽ được cắt túi mật bằng phương pháp mổ nội sỏi cắt túi mật.

Xác định chính xác thời điểm cần cắt túi mật để điều trị polyp túi mật sẽ giúp ngăn ngừa được nguy cơ ung thư, cũng như hạn chế tối đa được các biến chứng trên đường tiêu hóa khi lạm dụng cắt túi mật.



Ds. Lê Hoa

Theo nguồn:
http://www.scielo.br/scielo.php?script=sci_arttext&pid=S0104-42302010000300017&lng=en&nrm=iso&tlng=en
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3359430/

---------------------------------------------------------------------------------

* Lưu ý: Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh. 

Các bài viết khác

Bình luận

Viết bình luận

Chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên!