Sỏi ống mật chủ: triệu chứng điển hình, cách phòng ngừa và điều trị

Sỏi ống mật chủ là dạng sỏi trong đường mật gặp phổ biến nhưng những biến chứng của bệnh lại khá nguy hiểm. Chính vì vậy, phát hiện sớm bệnh và điều trị kịp thời sẽ giúp giảm những triệu chứng đau bụng, đầy chướng, khó tiêu cũng như biến chứng viêm tụy cấp.

Sỏi ống mật chủ là gì?

Sỏi ống mật chủ là tình trạng sỏi mật xuất hiện trong ống mật chủ. Các thành phần cấu thành nên sỏi mật có thể là sắc tố mật, cholesterol, muối canxi và các thành phần khác trong dịch mật. Sỏi tại vị trí mật chủ khá phổ biến, chiếm khoảng 50 – 60% các trường hợp mắc sỏi mật. Sỏi có thể là dạng đơn thuần hoặc kết hợp với sỏi ở những vị trí khác (sỏi túi mật, trong ống gan, trong đường mật trong gan,...)

Nguyên nhân gây sỏi ống mật chủ?

Sỏi có thể hình thành ngay tại ống mật chủ hoặc do sỏi từ đường mật trong gan hoặc túi mật di chuyển lọt xuống ống mật chủ. Ở các nước phương Tây, sỏi chủ yếu là sỏi cholesterol di chuyển từ túi mật xuống. Còn ở Việt Nam, thành phần chủ yếu của sỏi tại ống mật chủ là sắc tố mật có nhân sỏi là trứng hoặc xác giun. Giun chui ống mật hoặc nhiễm trùng đường mật đóng vai trò quan trọng trong cơ chế hình thành sỏi.

 Nhiễm trùng đường mật là yếu tố quan trọng trong hình thành sỏi ống mật chủ

Nhiễm trùng đường mật là yếu tố quan trọng trong hình thành sỏi ống mật chủ

Triệu chứng sỏi ống mật chủ?

Ống mật chủ là ống dẫn dịch mật từ gan hay túi mật xuống đường tiêu hóa để giúp cơ thể tiêu hóa chất béo, vì vậy, nó rất quan trọng trong việc lưu thông dịch mật. Khi sỏi xuất hiện trong ống mật chủ sẽ làm giảm lượng dịch mật xuống ruột non, gây đầy trướng, chậm tiêu. Nếu sỏi kích thước lớn sẽ gây tắc nghẽn đường mật, dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm đường mật, viêm túi mật, nhiễm trùng đường mật, viêm tụy cấp,...

Sỏi ống mật chủ gây tắc nghẽn đường dẫn mật và gây nên các triệu chứng điển hình (tam chứng charcot) như: đau hạ sườn phải, sốt, vàng da.

  • - Đau hạ sườn phải: Cơn đau hạ sườn phải thường xuất hiện đột ngột, dữ dội và kéo dài có khi 2 – 3 giờ. Đau có thể lan lên vai phải hoặc ra sau lưng. Sau khi ăn đau càng tăng hơn.
  • - Sốt: Sỏi làm ứ trệ dịch mật, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển, tiết ra nội độc tố gây viêm, nhiễm khuẩn, sốt. Sốt có thể xảy ra đồng thời hoặc vài giờ sau cơn đau, có khi sốt cao đến 39 – 40 độ C kèm theo rét run, vã mồ hôi, người mệt mỏi.
  • - Vàng da, vàng mắt: Là dấu hiệu xuất hiện muộn hơn. Dịch mật bị tắc nghẽn và ứ đọng ở gan, bilirubin trong dịch mật vào máu gây vàng da, vàng niêm mạc mắt.

Ba triệu chứng đau, sốt, vàng da có thể xuất hiện và biến mất sau một thời gian, đồng thời có thể tái phát nhiều lần là dấu hiệu điển hình của sỏi ống mật chủ. Ngoài ra, những triệu chứng khác cũng xuất hiện như: nôn hoặc buồn nôn đi kèm với đau, nước tiểu sẫm màu , phân bạc màu (khi tắc mật hoàn toàn) hoặc mẩn ngứa ngoài da do nhiễm độc muối mật (ít gặp).

 Đau, sốt, vàng da là triệu chứng phổ biến của sỏi ống mật chủ

Đau, sốt, vàng da là triệu chứng phổ biến của sỏi ống mật chủ

Biến chứng của sỏi ống mật chủ

Sỏi ở ống mật chủ gây nhiều biến chứng nguy hiểm, ngoài tắc mật cấp tính thì vẫn có giai đoạn ổn định tạm thời mặc dù vẫn còn sỏi trong ống mật chủ.  Khi điều trị ổn định bằng thuốc thì một số trường hợp dịch mật lưu thông trở lại, các triệu chứng đau, sốt, vàng da cũng giảm dần và hết hẳn. Nhưng những đợt viêm cấp vẫn có thể tái phát trở lại vì nguyên nhân gây tắc mật là sỏi vẫn chưa được giải quyết. Những biến chứng nguy hiểm của sỏi này bao gồm:

Viêm phúc mạc mật, thấm mật phúc mạc: Biến chứng nặng do dịch mật thấm qua thành túi mật, ống mật chủ, hoặc bị họai tử thủng. Bệnh nhân có biểu hiện của viêm đường mật và viêm phúc mạc, cần xử trí cấp cứu.

Sốc nhiễm trùng đường mật: Biến chứng nguy hiểm với tỉ lệ tử vong rất cao, cần hồi sức, kháng sinh liều cao và can thiệp ngoại khoa cấp cứu.

Áp xe gan: Thường xuất hiện nhiều ổ áp xe nhỏ dọc theo đường mật, bên trái nhiều hơn bên phải. Các triệu chứng như đau hạ sườn phải, sốt cao, vàng da, gan to và đau.

Viêm tụy cấp: Tắc nghẽn ống tụy do sỏi kẹt hoặc tắc tạm thời do sỏi di chuyển qua cơ vòng Oddi.

Các biến chứng ít gặp khác: Chảy máu đường mật , xơ gan, hội chứng gan thận, ung thư đường mật, tỉ lệ ung thư đường mật ở những trường hợp mắc sỏi đường mật vào khoảng 3,0 - 4,3%.

Điều trị sỏi ống mật chủ

Sỏi ống mật chủ chưa triệu chứng hoặc chỉ có những cơn đau quặn mật đơn thuần chưa có nhiễm trùng thường sẽ được chỉ định lấy sỏi bằng nội soi hoặc phẫu thuật theo chương trình – Những trường hợp cấp cứu như viêm đường mật cấp, việc điều trị bắt đầu bằng nội khoa bảo tồn trước khi lấy sỏi đường mật.

Điều trị nội khoa:

Thường được chỉ định sau khi có chẩn đoán viêm đường mật cấp do sỏi. Các bác sĩ cho dùng thuốc như thuốc kháng sinh, chống viêm, giảm đau… để điều trị ổn định.

80% trường hợp đáp ứng tốt với điều trị nội khoa sẽ được chỉ định can thiệp lấy sỏi đường mật trì hoãn. 20% diễn biến xấu hơn sẽ được chỉ định phương pháp lấy sỏi và đặt dẫn lưu đường mật cấp cứu.

Điều trị ngoại khoa:

Theo nguyên tắc: lấy hết sỏi và đảm bảo lưu thông dịch mật tốt. Các phương pháp điều trị được áp dụng bao gồm:

  • - Nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) là lựa chọn đầu tiên trong điều trị sỏi ống mật chủ, ngay cả ở những trường hợp cấp cứu với tỷ lệ lấy hết sỏi thành công cao, ít biến chứng (khoảng 5%).
  • - Dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da: Chỉ định trong những trường hợp nặng không đáp ứng với điều trị nội khoa và có nguy cơ phẫu thuật cao. Phương pháp dẫn lưu đường mật tạm thời giúp người bệnh qua giai đoạn nguy hiểm và sẽ được chỉ định lấy sỏi về sau.
  • - Phẫu thuật mở ống mật chủ lấy sỏi: Ống mật chủ thường được rạch dọc ở mặt trước và sử dụng các thiết bị, dụng cụ để gắp viên sỏi ra khỏi đường mật. Với những sỏi có kích thước nhỏ, phẫu thuật viên có thể dùng rọ để bắt sỏi. Còn những viên sỏi kích thước lớn thường kết hợp với kỹ thuật tán sỏi ngoài cơ thể nhằm phá vỡ thành những mảnh nhỏ hơn để dễ lấy ra ngoài. Hiện nay, phương pháp này ít áp dụng, trừ trường hợp cần thiết.

 Nội soi mật tụy ngược dòng là 1 trong những phương pháp điều trị sỏi ống mật chủ

Nội soi mật tụy ngược dòng là 1 trong những phương pháp điều trị sỏi ống mật chủ

Phòng ngừa sỏi ống mật chủ

Bạn hoàn toàn có thể phòng ngừa sỏi không chỉ ở ống mật chủ, mà còn trong túi mật, trong gan nếu có một chế độ ăn uống khoa học và sinh hoạt hợp lý.

  • - Chế độ ăn uống điều độ, đúng và đủ bữa. Hạn chế thực phẩm chứa nhiều chất béo, cholesterol (một trong những nguyên nhân hình thành sỏi mật), đồng thời tăng cường rau xanh, quả tươi, chất xơ sẽ giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn và phòng ngừa táo bón. Tẩy giun định kỳ 6 tháng một lần để phòng ngừa nhiễm khuẩn đường mật.
  • - Tăng cường vận động thân thể ít nhất 30 – 45 phút mỗi ngày sẽ giúp tăng hoạt động cơ, tăng nhu động mật, do đó giúp tăng cường hoạt động của hệ tiêu hóa, giảm sự ứ trệ dịch mật.
  • - Khám sức khỏe định kì 3 – 6 tháng/ lần hoặc khi thường xuyên xuất hiện chứng đầy chướng, chậm tiêu. Việc phát hiện sớm bệnh ở giai đoạn đầu sẽ giúp quá trình điều trị thuận lợi và hiệu quả hơn.

Cùng với những thay đổi trong chế độ ăn và lối sống, những người mắc bệnh sỏi mật có thể lựa chọn bài thuốc gồm 8 thảo dược quý có tác dụng tăng cường chức năng gan mật (uất kim, chi tử, cam thảo), bài mòn sỏi (kim tiền thảo), kháng viêm, kháng khuẩn (hoàng bá, vàng đằng), kích thích tiêu hóa (chỉ xác)… nhằm giúp phòng ngừa các triệu chứng, biến chứng do sỏi ống mật chủ gây ra.

Sỏi ống mật chủ tuy không phải là một căn bệnh mới nhưng lại gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người mắc bệnh. Qua bài viết này, bạn đọc hãy hiểu rõ hơn về bệnh, nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng ngừa cũng như điều trị sỏi tại ống mật chủ.

 Phương Linh

Tham khảo: https://www.healthline.com/health/choledocholithiasis#prevention

*Lưu ý: Những thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, không thay thế chỉ định điều trị và chẩn đoán của bác sĩ.

Các bài viết khác

Bình luận

Viết bình luận

Chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên!